Cây đã kiểm trong mỗi đợt tạo thành một tập riêng. Nhân sự kiểm dùng các kết quả đã được lập để mô tả cơ cấu hạng và mức phân tán trong từng đợt; người tổng hợp đặt các đợt cạnh nhau trên cùng khung phân hạng. Bên mua nhận danh sách phần ổn định, phần thay đổi và phần không đủ khả năng so sánh để xem lại. Đơn vị cung cấp giữ nhận diện theo đợt. Vận chuyển cùng người nhận xác nhận đúng phần thực giao, nhưng kết quả không tự đưa ra quyết định về nơi cung cấp.
Độ đồng đều qua nhiều đợt được đọc bằng cách đặt các tập cây đã kiểm cạnh nhau, không bằng cách mang kết luận cũ sang phần giao mới. Với mỗi đợt, nhân sự kiểm tổng hợp số cây thuộc từng hạng, vùng tập trung, cụm khác biệt và phần ở biên từ kết quả đã có. Người tổng hợp sau đó so cơ cấu hạng giữa các đợt. Mục tiêu là phát hiện đợt nào duy trì hình thái tương tự, đợt nào xuất hiện chênh lệch đáng chú ý và đợt nào không thể so sánh đủ rõ để bên mua xem lại.
Giữ một khung phân hạng xuyên suốt các đợt
Bên mua xác nhận tên gọi và ý nghĩa của các hạng dùng để tổng hợp. Nếu cách gọi thay đổi giữa các đợt, người lập quy đổi bằng căn cứ đã được chấp thuận hoặc ghi trạng thái không thể so sánh; họ không gộp hai hạng chỉ vì tên gần giống. Mỗi cây đã kiểm vẫn thuộc đúng đợt và hạng của nó. Khung chung phục vụ việc đọc chênh lệch, không xóa bối cảnh từng đợt. Khi một hạng mới xuất hiện, người tổng hợp nêu rõ thay đổi thay vì ép nó vào hạng cũ cho bảng trông liền mạch.
Người tổng hợp chỉ so các phần có cùng ý nghĩa sử dụng. Nếu một đợt gồm hạng khác hẳn vì mục đích giao khác, họ tách phần đó khỏi phép so trực tiếp và giải thích lý do. Nếu phạm vi cây đã kiểm giữa hai đợt khác nhau, họ ghi rõ số cây thực tế trong mỗi tập, không biến chênh lệch về phạm vi thành nhận xét về chất lượng. Bảng so sánh cần cho thấy cả phần có thể đặt cạnh nhau lẫn phần không thể so sánh, để người mua không hiểu một ô trống là không có sai khác.
Chênh lệch đáng chú ý có thể là cơ cấu hạng dịch sang một nhóm khác, số cây ở biên tăng, hoặc một cụm mới xuất hiện trong tập đã kiểm. Người lập mô tả đúng hiện tượng và đợt liên quan, không tự giải thích nguyên nhân khi chưa có căn cứ. Bên mua xem thay đổi đó có ảnh hưởng cách sử dụng phần cây sắp tới hay không. Kết quả so sánh chỉ làm nổi bật nơi cần xem lại; nó không tự chấp thuận, loại bỏ hay thay đổi nơi cung cấp.
Tách thay đổi thật khỏi khác biệt về phạm vi
Khi hai đợt có số cây đã kiểm hoặc cơ cấu mục đích khác nhau, người tổng hợp tránh dùng một tỷ lệ đứng riêng không kèm số cây và danh sách mã. Họ có thể trình bày số cây theo hạng và ghi chú phạm vi để bên mua tự đánh giá. Không có tỷ lệ mặc định nào được thêm vào. Nếu phần đã kiểm quá khác nhau để đọc chung, trạng thái phù hợp là “không thể so sánh”, chứ không phải “ổn định”. Cách ghi này giữ cho chênh lệch giữa các đợt phản ánh đúng tập cây đã biết.
| Trạng thái | Ý nghĩa trong tập đã kiểm | Việc tiếp theo |
|---|---|---|
| Ổn định quan sát được | Cơ cấu hạng và mức phân tán không có thay đổi làm đổi cách sử dụng | Duy trì ghi nhận cho đợt đó |
| Có chênh lệch | Xuất hiện dịch chuyển hạng, cụm mới hoặc nhiều cây ở biên hơn | Bên mua xem lại phần liên quan |
| Không thể so sánh | Khung hạng hoặc phạm vi không tương thích | Bổ sung căn cứ trước khi kết luận |
Chuyển phần bất thường cho người mua xem lại
Người lập chuẩn bị một danh sách ngắn gồm đợt, hạng, cây hoặc nhóm cây liên quan và dạng chênh lệch. Bên mua quyết định có cần xem lại cách sử dụng phần đó hay yêu cầu đánh giá bổ sung. Nhân sự kiểm không dùng bảng so sánh để quyết định nguồn, còn đơn vị cung cấp không diễn giải trạng thái ổn định của đợt trước thành sự chấp thuận cho đợt sau. Mỗi đợt vẫn giữ quyết định riêng trên các cây thực tế đã kiểm.
Nếu chưa có phương án lấy mẫu chấp nhận được dẫn nguồn, nêu cỡ mẫu và quy tắc quyết định đã chốt trước, kết luận chỉ áp dụng cho cây đã kiểm trong từng đợt. Người phụ trách không suy rộng cơ cấu hạng sang cây chưa kiểm và không dùng chênh lệch quan sát được để mô tả toàn bộ lô. Bên mua muốn xem phần khác phải yêu cầu đánh giá chính phần đó hoặc áp dụng một phương pháp hợp lệ đã chọn trước. Bảng giữa các đợt không làm rộng thêm phạm vi của bất kỳ kết luận gốc nào.
Đơn vị cung cấp giữ các phần cây theo đúng đợt và trạng thái đã ghi. Người điều phối dùng danh sách được bên mua xác nhận để chuẩn bị phần có thể tiếp tục, nhưng không tự xử lý dòng “có chênh lệch” hoặc “không thể so sánh”. Vận chuyển tiếp quản cây thuộc đợt và hạng đã duyệt; người nhận ghi đúng đợt thực đến. Nếu phát sinh cây không nằm trong tập đã biết, họ tách riêng thay vì gán vào hạng của đợt gần nhất.
Bảng tổng hợp hoàn tất với ba nhóm trạng thái: đợt có mức đồng đều ổn định trong tập đã kiểm, đợt có chênh lệch cần bên mua xem lại, và đợt chưa thể so vì phạm vi không tương thích. Không trạng thái nào ra quyết định về nơi cung cấp. Người mua nhận đúng danh sách cần chú ý, còn các vai trò giao nhận tiếp tục làm việc trên phần đã có trạng thái mà không vay kết luận của đợt khác.
