Một đoạn màn che ngắn không thể tính chỉ bằng câu “mỗi mét vài bụi”, vì bụi có thể khác số thân, cỡ bầu và dáng xòe. Người mua nên vẽ chiều dài sử dụng, đánh dấu chướng ngại, mô tả độ kín mong muốn ở thời điểm nhận, sau đó dùng bảng quy đổi chiều dài và số bụi của đúng phương án. Khi giao, đếm cả số bụi lẫn số thân theo cách đã thống nhất trước.
Khi mua cây lẻ, tre trúc làm màn che theo số bụi cần được tính từ đoạn trồng thật và cấu tạo của đúng bụi được đề xuất. Một con số về bụi sẽ gây hiểu nhầm nếu chưa biết một bụi đang được đếm theo cấu tạo nào. Hai bụi có thể khác số thân nhìn thấy, bề rộng tán và kích thước bầu; vì thế tổng số bụi không tự nói màn che ban đầu sẽ dày hay có đặt vừa dải đất hay không.
Vẽ đoạn cần che thành các vị trí có thể đặt bầu
Người mua đo chiều dài từ điểm đầu đến điểm cuối, rồi đánh dấu cổng mở, trụ, hộp kỹ thuật, ống, góc cua và phần phải chừa để bảo trì. Nếu dải trồng đổi hướng, tách thành từng đoạn thẳng thay vì cộng thành một chiều dài duy nhất. Bản vẽ nhỏ này thực tế hơn một định mức truyền miệng vì nó giữ lại các chỗ không thể đặt bầu. Mặt nhìn cần che cũng được đánh dấu để hiểu hướng xòe mong muốn.
Bề rộng dải đất và khoảng không phía trên cũng ảnh hưởng phương án. Bầu phải lọt vào từng vị trí mà không chồng lên vật cản, còn thân và lá không được tính như một tấm phẳng cứng. Người mua gửi ảnh có mốc kích thước, nhưng số đo viết rõ vẫn là phần dùng để so. Nếu đoạn đất chưa được chuẩn bị, cần nói tình trạng hiện tại để tách việc mua cây khỏi phần đào, xử lý nền hoặc trồng.
| Dòng tính | Thông tin cần ghi | Kết quả dùng để chốt |
|---|---|---|
| Chiều dài hữu dụng | Từng đoạn sau khi trừ chướng ngại | Vùng thật sự có thể bố trí |
| Vị trí dự kiến | Tâm bầu và khoảng giữa các tâm | Số vị trí có thể đặt |
| Cấu tạo bụi | Số thân được đếm và cỡ bầu | Đơn vị mua được hiểu giống nhau |
| Độ kín ban đầu | Mặt nhìn và khoảng hở chấp nhận | Cách duyệt trước khi đặt |
Nói rõ “một bụi” trước khi nhân số lượng
Ba thông tin phải đi cùng nhau là số thân trong bụi, độ kín và cỡ bầu. Một bụi trong đơn nên được nhận diện bằng bầu riêng có thể đếm, số thân theo quy ước đã thống nhất và khoảng kích thước bầu. Cần nói thân nào được tính: thân sống nhìn thấy từ bầu, hay một cách đếm khác do hai bên xác nhận. Không dùng số chồi quá nhỏ hoặc phần cắt còn lại để làm tăng số nếu chúng không nằm trong cách đếm. Ảnh một vài bụi được đề xuất giúp người mua hiểu đơn vị trước khi lập tổng.
Nếu các bụi không đồng đều, thay vì giả vờ rằng mọi bụi giống hệt nhau, hai bên có thể chia thành những nhóm quy cách nhìn thấy. Bảng số lượng ghi nhóm nào đặt ở đầu, giữa hoặc cuối đoạn nếu điều đó ảnh hưởng mặt nhìn. Cách này giữ quyết định ở những cây đang có thể xem, không biến một con số trung bình thành lời hứa rằng từng bụi sẽ giống nhau.
Cỡ bầu cần ghi cả bề rộng, chiều cao và phần bao nhô ra. Bầu quyết định số vị trí có thể đặt, khả năng đi qua lối sân và khoảng đất cần chuẩn bị. Không thu hẹp khoảng cách chỉ để đạt số bụi cao hơn khi bầu không còn chỗ. Nếu người mua dự định dùng chậu hoặc bồn có sẵn, kích thước bên trong và lối đưa bầu vào phải được trao đổi riêng trước lúc chọn.
Chọn mốc để nói về độ kín
Độ kín phải được gắn với một mốc quan sát, nếu không hai bên có thể cùng dùng một từ nhưng hình dung hai kết quả khác nhau. Người mua nói rõ muốn đánh giá lúc các bụi được đặt thử khi giao, ngay sau trồng hay ở một mốc sau chỉ khi có tư vấn và điều kiện chăm sóc cụ thể. Phần chắc chắn nhất trong giao dịch lẻ là độ kín nhìn thấy của đúng nhóm cây tại thời điểm duyệt và cách sắp thử theo sơ đồ.
Có thể dùng một dây đánh dấu mặt nhìn và đặt hình đại diện cho từng bầu trên sơ đồ. Khoảng giữa các vị trí được ghi theo tâm hoặc theo mép bầu, nhưng phải dùng nhất quán. Nếu muốn hai lớp so le, bảng phải thể hiện hai hàng và bề rộng cần có; không lấy công thức một hàng rồi nhân tùy ý. Bất kỳ khoảng cách đề xuất nào cũng cần được đối chiếu với loài, cỡ bụi và điều kiện vị trí cụ thể trước khi đặt.
Lập bảng quy đổi có thể đếm lại
Bảng quy đổi chiều dài và số bụi nên có từng đoạn, chiều dài hữu dụng, số vị trí dự kiến, khoảng giữa vị trí, nhóm cỡ bầu và tổng số bụi. Một cột riêng ghi số thân tối thiểu hoặc khoảng số thân theo cách đã thỏa thuận. Nếu sơ đồ thay đổi vì gặp vật cản, cập nhật số vị trí thay vì giữ nguyên tổng ban đầu. Bảng này không phải công thức dùng cho mọi sân; nó là bản đối chiếu của đoạn đang mua.
Tổng số thân được tính từ từng bụi thực tế hoặc từ quy cách đã chốt, không nên lấy một con số đại diện rồi bỏ qua bụi khác biệt. Khi chọn nhóm cây, bên bán có thể gửi ảnh theo hàng để người mua thấy độ đồng đều và những bụi có dáng khác. Nếu một bụi được thay trước giao, số thân, cỡ bầu và vị trí dự kiến của bụi thay cũng cần được kiểm lại.
Giao và đếm tại đúng đoạn trồng
Giao tới điểm trồng trong sân cần được hiểu là điểm nào trên sơ đồ và tuyến nào dùng để đưa từng bầu tới đó. Người mua đo cổng, hành lang, góc rẽ và bậc; bên bán nêu kích thước bao ngoài của bầu khi giao. Nếu điểm bàn giao chỉ ở cổng hoặc khu tập kết, phải ghi đúng như vậy. Việc phân bụi vào từng vị trí, đào hố hoặc trồng không tự nằm trong phạm vi chỉ vì cây được giao tới sân.
Khi nhận, xếp các bụi theo nhóm quy cách ở vùng có thể quan sát. Người nhận đếm đủ bụi và số thân đã thỏa thuận, so cỡ bầu, rồi đặt thử theo những mốc chính nếu phạm vi nhận có bước này. Sai khác được ghi theo từng bụi hoặc từng nhóm, tránh chỉ chụp một ảnh tổng khó nhận ra phần thiếu. Chưa tháo bao bầu hay tách bụi trước khi kết thúc đếm, vì thao tác đó làm đơn vị mua không còn nguyên như lúc giao.
Giá, khả năng có đủ nhóm cây, lịch giao và phần việc tại sân chỉ được dùng khi đã xác nhận cho đơn cụ thể. Không khẳng định màn che sẽ kín sau một thời gian nếu chưa có cơ sở cho đúng cây, vị trí và chăm sóc. Quyết định mua thực tế là chốt mật độ mong muốn cùng cách đếm trước khi đặt, rồi giữ bảng quy đổi đủ rõ để người nhận kiểm đúng số bụi, số thân và cỡ bầu đã chọn.
Gửi số đo đoạn màn che và yêu cầu mua cây lẻ để trao đổi báo giá
